Ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp

21/01/2021 09:18 Số lượt xem: 218
Năm 2020, mặc dù còn nhiều khó khăn tác động, song nhiệm vụ khoa học và công nghệ được ngành chức năng, đơn vị thành viên bám sát thực tiễn, triển khai các đề tài, dự án phục vụ thiết thực cho các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Đồng thời định hướng các chính sách phát triển bảo đảm an ninh lương thực, phát triển nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ sinh học, nông thôn mới. Các giống lúa mới năng suất, chất lượng cao qua khảo nghiệm được bổ sung vào cơ cấu giống lúa của tỉnh, các dự án mô hình nông nghiệp công nghệ cao, các tiến bộ kỹ thuật nhằm tăng năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi được nhân rộng và mang lại hiệu ứng tích cực.

Trong năm các huyện, thị xã, thành phố phối hợp với đơn vị nghiên cứu, cơ quan chức năng triển khai thực hiện mới 11 đề tài, dự án; chuyển tiếp 8 đề tài; đánh giá, nghiệm thu 6 dự án đã hoàn thành. Qua đó, nhiều tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp tiếp tục được áp dụng triển khai, góp phần thực hiện chủ trương tăng cường phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại hóa, bền vững, sản xuất hàng hóa với quy mô khá, tạo ra nhiều sản phẩm nông nghiệp năng suất, chất lượng cao. Điển hình là các giống lúa lai, lúa thuần và lúa chất lượng cao (lúa nếp, lúa thơm…) tạo ra từ các phương pháp ứng dụng công nghệ sinh học được lựa chọn, khảo nghiệm và nhân rộng vào sản xuất đã góp phần tăng năng suất và hiệu quả kinh tế. Cụ thể là: Mô hình trình diễn và phát triển giống lúa ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng tốt LCH37 (Sơn Lâm 2); mô hình giống lúa mới (Dự Hương 8 và VNR20) an toàn, chất lượng cao sản xuất theo chuỗi, góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh; mô hình tích hợp giữa giống lúa thơm mới ngắn ngày, chất lượng cao với gói kỹ thuật canh tác tiên tiến đã góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất lúa… Qua thực tiễn triển khai, các đề tài, dự án là cơ sở để cơ quan chuyên môn tham mưu với tỉnh ban hành chủ trương cải tạo bộ giống lúa của tỉnh. Nhiều giống lúa mới có năng suất, chất lượng, giá trị kinh tế cao, chống chịu tốt với ngoại cảnh như các giống lúa năng suất, chất lượng cao GS9, Q.ưu số 1, B-TE1, Bác ưu 903-KBL, BC15, Thiên ưu 8, Bắc thơm số 7, TBR225, nếp N87, N97, PD2, BM 9603... đã tạo sự chuyển dịch tích cực trong cơ cấu trà và giống lúa theo hướng ổn định cơ cấu trà; tăng tỷ lệ diện tích lúa năng suất, chất lượng cao của toàn tỉnh lên hơn 60%.

 

Sản xuất lan Hồ điệp trong nhà lưới tại Phú Lâm (Tiên Du).


Mô hình áp dụng chất kích kháng sâu, bệnh hại trên nền phân bón hợp lý cho một số cây trồng chính (lúa, khoai tây, cà rốt và rau màu…) nhằm nâng cao năng suất (15-25%), giảm tỷ lệ sâu bệnh hại từ 30-50%; xây dựng bộ cơ sở dữ liệu trực tuyến về chất lượng đất trồng lúa phục vụ thâm canh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nâng cao hiệu quả đất trồng lúa, giảm thiểu phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, thích ứng biến đổi khí hậu; mô hình sử dụng phân bón hữu cơ nano và chế phẩm sinh học trong sản xuất (rau, lúa, cây ăn quả) an toàn; mô hình sản xuất giống nho Hạt đen có giá trị kinh tế cao (năng suất dự kiến 13-15 tấn/ha)…
Trong lĩnh vực chăn nuôi đã chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật về việc chủ động cho sinh sản nhân tạo các giống thuỷ sản chất lượng cao (cá chày mắt đỏ, cá lăng chấm, chạch sông, cá chép Séc…). Triển khai mô hình nuôi thương phẩm cá tầm Siberi (Acipenser baeri) với 4 lồng nuôi trên sông, tỷ lệ sống đạt hơn 85%, năng suất bình quân dự kiến từ 4-4,5 tấn/lồng/vụ, thu nhập dự kiến đạt 180-200 triệu đồng/lồng/vụ; áp dụng phương pháp lai xa, sử dụng hoocmon, ứng dụng phương pháp đẻ vuốt, ấp trứng bằng bình vây để sản xuất các loại giống cá (chép lai, rô phi, cá chép Séc…) cung cấp cho thị trường. Ứng dụng công nghệ chuồng kín có hệ thống làm mát, điều khiển nhiệt độ chuồng nuôi, máng ăn, nước uống tự động vào chăn nuôi trong các trang trại, gia trại tiếp tục được mở rộng phát triển. Ứng dụng công nghệ chọn lọc gen gà Hồ để bảo tồn, chọn giống, thụ tinh nhân tạo cho gà. Sử dụng các enzyme, chế phẩm sinh học probiotic trong sản xuất thức ăn chăn nuôi, công nghệ Elisa, PCR trong chẩn đoán bệnh động vật...
Việc ứng dụng các tiến bộ trong công nghệ bảo quản sau thu hoạch tạo giá trị mới cho nông sản như: Bảo quản lạnh, sử dụng các chất điều tiết sinh trưởng... nhằm kéo dài thời gian cung cấp sản phẩm ra thị trường, hoặc cung cấp trái vụ, lệch vụ giúp sản phẩm tươi, an toàn, bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng. Thiết kế và ứng dụng, chuyển giao hệ thống công nghệ bảo quản nông sản (khoai tây giống, khoai tây thương phẩm, cà rốt..) bằng công nghệ kiểm soát môi trường với quy mô 1.500m2, bảo quản từ 1.500-1.800 tấn, thời gian bảo quản từ 9 tháng đến 1 năm, tỷ lệ hao hụt thấp chỉ còn từ 2-5%, góp phần đáng kể nâng cao giá trị nông sản hàng hoá, tăng thu nhập cho bà con nông dân…
Khoa học, công nghệ được chuyển giao vào sản xuất thực sự là một trong các giải pháp quan trọng đóng góp có hiệu quả, tạo ra chuyển biến mang tính đột phá trong phát triển sản xuất nông nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh của nông sản trên thị trường, giải quyết bài toán “cực đoan” về biến đổi khí hậu... phục vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nâng cao đời sống của người dân, góp phần thực hiện chủ trương tăng cường phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại hóa, bền vững.

Thái Uyên
Nguồn: Báo Bắc Ninh