NGƯỜI CHĂM QUÉT BỤI THỜI GIAN

17/06/2018 09:07 Số lượt xem: 171

   Cụ Nguyễn Xuân Sáu sinh năm 1934 là người được dân làng Chằm gọi là người chăm quét bụi thời gian. Mặc dù tuổi cao, sức yếu nhưng cụ vẫn lăn lộn đình, chùa, miếu, nhà thờ của cả làng để làm cái việc quét bụi thời gian, công việc cặm cụi một mình vì không chờ được người giúp và cũng không có người giúp được. Đó là việc ghi chép lại và dịch văn bản Hán Nôm trên hoành phi, câu đối, bi kí ra chữ quốc ngữ cho mọi người cùng hiểu. Chỉ trong vòng chục năm, cụ đã làm được hai cuốn “Hoành phi câu đối Mão Điền” và “Chuông đồng, bia đá Mão Điền”. Vậy là vốn văn bản Hán Nôm chỉ là những kí tự bí mật với hầu hết dân làng nay đã được sáng tỏ thông điệp thời gian của người xưa gửi lại cho con cháu.

Cụ Sáu hổi nhỏ có được theo học lớp chữ Hán tại thôn Thụy Mão do cụ đồ Khoan quê tận Nghệ An ra dạy. Được vài năm thì cụ đồ về quê. Cụ Sáu được cụ thân sinh trực tiếp rèn dạy thêm. Một cách dạy khéo của cụ thân sinh là cho chép sử và giảng nghĩa từng đoạn, từng chữ. Như vậy vừa được học chữ vừa được học kiến thức bổ ích. Học chữ Hán suốt thời niên thiếu, vốn chữ kha khá nhưng cụ Sáu đành cất kĩ trong một góc trí nhớ để dành tâm sức cho công việc mới là nghề dạy học. Năm 1989 do điều kiện gia đình thúc ép, cụ Sáu nghỉ chế độ mất sức về nhà lo nuôi con cái ăn học. Bấy giờ ở làng có người bạn là cụ Nguyễn Duy Hợp chuyên tâm nghiên cứu văn học dân gian rủ ông cùng làm cho vui. Cụ Hợp từng được huyện Thuận Thành trưng tập đi điều tra khảo sát di tích nên khá am tường những di tích tiêu biểu của huyện cần giới thiệu rộng rãi như chùa Dâu, thành Luy Lâu, chùa Bút Tháp, dòng họ Nguyễn Gia, tranh Đông Hồ… Càng làm càng ham vì được hiểu thâm bề dày văn hóa truyền thống của quê hương, và hơn thế, giới thiệu được giá trị ấy cho mọi người cùng biết. Hai cụ thành cặp đôi hoàn hảo trong việc này. Nhiều bài viết chung của hai cụ được in ở tạp chí Hán Nôm, được giới thiệu ở Hội nghị thông báo Hán Nôm và các báo khác.

   Sau nhiều năm miệt mài giới thiệu di tích của huyện, hai cụ quay về viết sách giới thiệu làng mình. Cụ Hợp viết cuốn “Phong thổ Mão Điền” và sách này giành giải 3 của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam năm 2001. Cụ Sáu thì dày công biên chép và dịch các văn bản Hán Nôm. Xã Mão Điền hiện còn 3 ngôi đình, 2 ngôi chùa, 1 ngôi nghè, nhiều đền miếu và nhà thờ họ. Được Câu lạc bộ Hán Nôm của xã giúp đỡ, cụ Sáu hoàn thành cuốn “Hoành phi câu đối” trước. Hoành phi câu đối tuy số lượng chữ không nhiều nhưng việc dịch ở thể đối lại khó, mất nhiều công sức suy nghĩ. Hoành phi câu đối vừa là đồ thờ vừa là tiếng nói tư tưởng, tình cảm của nhân dân các thời kì đối với thánh thần, với tiên tổ bằng một nghệ thuật độc đáo, đậm chất trí tuệ. Đình Vật tuy không còn nhưng vẫn lưu lại đôi câu đối cổ: Nhị xã hội thông chiêu văn chiêu vật/Ức niên phụng tự tại miếu tại đình (Hai xã vào hội cầu văn vật/Muôn năm thờ cúng tại miếu đình). Bên cạnh đình Vật là ngôi miếu Hào cũng là một di tích thờ thánh qua văn tự hoành phi Thánh đức nguyên hương (Đức của thánh vẻ vang to lớn) và văn tự câu đối Ngũ nhạc cung triều vương tự địa/Tam thai dục tú quốc phong từ (Ngũ nhạc chầu về đất sinh thánh/Tam thai rạng vẻ đền phong vương). Điếm xóm Đức Hậu có câu: Linh thanh hiển hách giang sơn cổ/Điện vũ huy hoàng cảnh sắc tân (Tiếng thiêng hiển hách trời đất cũ/Cung điện huy hoàng cảnh sắc tươi). Điếm xóm Táo có câu: Mão địa ức niên chung tú cảnh/Chấn cung vạn cổ hiển linh từ (Đất Mão nghìn năm hoà phong cảnh/Cung Tây muôn thuở dựng đền thiêng). Câu đối nhà thờ họ Ngô: Nhị phẩm trấn thần tiên ấm cựu/Ngũ niên châu kí quốc ân long (Làm quan tổng trấn phúc con cháu/Năm năm giữ đất lộc vua bền). Nhà thờ họ Lương ở xóm Luỹ có tên Hồi nguyên đường, một di tích lịch sử văn hoá có nhiều câu đối nói rõ lai lịch vị tiến sĩ họ Lương ở Đào Xá có gốc quê Mão Điền: Đào đàn thần xá tê Lương mộc/Đông thổ tâm điền huyến Mão tinh (Đào Xá linh thần gốc Lương tộc/Đất Đông rực sáng ở Mão tinh).

   Làm xong cuốn hoành phi câu đối cụ Sáu lại miệt mài làm tiếp cuốn chuông đồng bia đá. Đây thực sự là những thông điệp có gí trị. Bia “Lốc” ở cổng Cả do những danh sĩ hàng đầu của Mão Điền soạn từ xưa đến nay vẫn đáng ngưỡng mộ, trở thành di tích tiêu biểu và niềm tự hào của địa phương. Sau đoạn mở đầu ca ngợi triều Lê Trịnh là những câu ca ngợi quê hương Mão Điền. Cụ Sáu đã bỏ rất nhiều tâm sức và cảm xúc để dịch bia này sao cho vừa bám sát nội dung vừa dễ hiểu dễ nhớ. “Siêu Loại đất Kinh Bắc/Mão Điền thuộc Thuận Thành/Bên phải hổ chầu phục/Bên trái rồng uốn quanh/Đằng sau núi sừng sững/Phía trước nước mênh mông/Đất thiêng lại đẹp mạnh/Hiền tài nối tiếp sinh/Nông bề bề giàu thóc/Sĩ lớp lớp đề danh/Công tiếng khen nhất phẩm/Thương tiền lãi ngàn linh/Quan viên đông khắp xã/Phúc lộc hưởng rành rành/Con cháu thịnh tơi tới/Thọ trường mãi mãi xanh”. Người Mão Điền thời nay đã làm được như những điều ước vọng trong bia. Làng nghề cá bột hái ra tiền, dân giỏi làm nông và buôn bán, con cháu học hành thành đạt nổi tiếng là “Làng đại học” của cả nước, rất xứng với câu “Sĩ lớp lớp đề danh”. Trong số này có cả con cháu cụ Sáu. Cụ có con học ở nước ngoài, cán bộ quân đội cao cấp. Cháu nội cụ cũng học ở nước ngoài và sớm là người có khiếu văn học, đã có bài in báo khi đang là sinh viên và bản thân cũng được báo giới thiệu gương tiêu biểu.

   Cụ Sáu tâm niệm, được đem sở học phục vụ quê hương là niềm vui, niềm hạnh phúc lớn nhất không phần thưởng nào sánh kịp. Vì thế công việc quét bụi thời gian âm thầm. miệt mài bao năm qua cụ vẫn gắng làm và làm có hiệu quả.

Phạm Thuận Thành